Return to front page!

One-time fee web hosting!


Trangtrước
  Trangkế
VNY2K
Tin Thếgiới
Tin ÐôngnamÁ
Tin Lưutrữ
Thamluận

.

Họcthuật
Việtngữ2020
HánNôm
Từnguyên
Sửký
Vănhoá
Sángtác
Viễnduký
Tuỳbút
TìnhThơ
Thưgiãn
Diễnđàn
 
 

 
Chinhphụngâm Diễnca

Bản Nôm: Đoàn Thị Điểm
Dịchgiả: dchph


A note on the new translation:

In the process of studying the origin of the Vietnamese language, I have come upon a reprint of a handwritten Nôm version of "Chinhphụ-ngâm Diễnca", published by Cơsở Đông Tiến in 1988 (USA). It claimed that the Nôm version was written by Madam Đoàn Thị Điểm herself, but the Đông Tiến did not present any proof. Only after having studied the poem closely, I come to the conclusion that could not be of Mme. Đoàn Thị Điểms composition, let alone it is of her own handwriting. In this version, there is inconsistent usage of different Nôm characters for the same word, even in the same sentence, and redundancy with extra words (which are intentionally omitted in my translation). The latter violates the rule of Songthất Lụcbát format. Besides, let's not forget to mention there has been a controversy that Phan Huy Ích might be the actual author of the Nôm version. By the way, Cơsở Đông Tiến might have no means to realize that its Quốcngữ version printed along with the copy of handwritten Nôm version does not closely match with each other, for example, discrepancy in word usage in almost every other line (the same with other Quốcngữ versions) and having 4 extra lines, lines 317-320, which the presenting Nôm version does not have.

In any case, this version presents another Nôm version which is slightly different, mostly in word choices and usage, from some other Quốcngữ versions now being in circulation. Somehow I think that is a Nôm version, so its verses may be closer to the original version than those "tamsao thấtbổn" in Quốcngữ versions. Therefore, I decide to translate this Nôm version into Quốcngữ, hoping that it would beneficially further contribute to the literary world of studying Classical Vietnamese literature and linguistics.

In my translation from Nôm to Quốcngữ, I use the "Quốcngữ năm 2020" in which all the disyllabic words are combined together. This new way of writing Quốcngữ will scientifically and linguistically reflect the fact that Vietnamese is bot a monosyllabic language as seen by some Vietnamese specialists.
 

x X x


Thuở trờiđất nổi cơn gióbụi,
Khách máhồng nhiều nỗi truânchuyên,
Xanh kia thămthẳm từng trên,
Vì ai gâydựng cho nên nỗi nầy?
Trống Tràngthành lunglay bóngnguyệt,
Khói Camtuyền mờmịt thứcmây,
Cửutrùng gươmbáu trao tay,
Nửađêm truyềnhịch địnhngày xuấtchinh.
Nước thanhbình ba trăm năm cũ,
Áo nhung trao quanvũ từ nay.
Sứtrời sớm giục đường mây,
Phépcông là trọng, niềmtây sá nào.
Đường giongruổi lưng đeo cungtiễn,
Buổi tiễnđưa lòng bận thênoa,
Bóng cờ tiếng trống xaxa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.
Chàng tuổitrẻ vốn giòng hàokiệt,
Xếp bútnghiên theo việc đaocung,
Thành liền mong hiến bệrồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặmnghìn da ngựa,
Gieo Tháisơn nhẹ nửa Hồngmao,
Giã nhà đeo bức chiếnbào,
Thét roi cầu Vị, àoào gió thu.
Ngòi đầucầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non,
Đưa chàng lòng dặcdặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền.
Nước có chảy mà phiền chẳng dã,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.
Dặn rồi dặn lại cầm tay,
Bước đi một bước giâygiây lại dừng.
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Chàng sầu xa tìm cõi Thiênsan.
Múa gươm tiễnrượu chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Săn Lâulan rằng theo Giớitử,
Tới Mankhê bàn sự Phụcba.
Áo chàng đỏ tựa sương pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc ngựa lẫn chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chiatay,
Hàlương chiarẽ đường này,
Bên đường trông lá cờ bay ngùingùi.
Quân trước đã gần ngoài doanhliễu,
Kỵ sau còn khuấtnẽo Tràngdương,
Quân đưa chàng ruổi lênđường,
Liễudương biết thiếp đoạntrường nầy chăng?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồngvọng,
Hàng cờ đi theo bóng phấtphơ,
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặngnúi ngẩnngơ nỗi nhà.
Chàng thì đi cõixa mưagió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếuchăn,
Đoáitrông tiễn đã cáchngăn,
Tuôn màu mây biếc phơi hằn non xanh.
Chốn Hàmkinh chàng còn ngãnhlại,
Cõi Tiêutương thiếp hãy trông chàng.
Khói Tiêutương cách Hàmdương,
Cây Hàmdương cách Tiêutương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanhxanh những mấy ngàndâu.
Ngàndâu xanhngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Chàng từ đi vào đồi giócát,
Đêm trăng nầy nghỉmát phương nao?
Xưa nay chiếnđịa dường bao,
Nhà không muôndặm xiếtbao dãidầu.
Hơi gió lạnh người rầu mặtdạn,
Giòng nước sâu ngựa nãn chânbon.
Ôm yên gối trống đã chồn,
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạchthành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanhhải dòmqua.
Hình khe thế núi gầnxa,
Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
Sương đầu núi buổichiều như gội,
Nước lòng khe nẻo suối còn sâu.
Xót người áogiáp bấylâu,
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
Trên trướnggấm thấuhay chăng nhẻ?
Trạng chinhphu ai vẽ cho nên,
Tưởng chàng giongruổi mấy niên,
Chẳng nơi Hãnhải thì miền Tiêuquan.
Đà trắctrở đòi ngàn xàhổ,
Lại lạnhlùng những chỗ sươngphong,
Lên cao trông thức mây lồng,
Lòng nào là chẳng độnglòng bithương.
Từ chàng đi đôngnam khơinẽo,
Biết nay chàng tiếnthảo nơiđâu?
Những người chinhchiến bấylâu,
Nhẹ xem tínhmệnh như màu cỏcây.
Nức hơi ấm ân dày từ trước,
Trải chốn nghèo tuổi đuợc baonhiêu?
Nonkỳ quạnhquẽ trăng treo,
Bến phi gió thổi hiuhiu mấy gò.
Hồn tửsĩ gió ùù thổi,
Mặt chinhphu trăng dõidõi soi,
Chinhphu tửsĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.
Dấu binhlủa nướcnon như cũ,
Kẻ hànhnhân qua đó chạnhthương.
Phậntrai già ruổi chiếntrường,
Chàng Siêu tóc đã điểmsương mới về.
Tưởng chàng trải nhiều bề khốnkhó,
Ba thước gươm một bó nhungyên,
Xôngpha gióbãi trăngngàn,
Kiếm treo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.
Hội côngdanh trăm đuờng rộnrã,
Những nhọcnhằn nào đã nghỉngơi,
Nỗiniềm biết ngỏ cùng ai?
Thiếp trong cánhcửa chàng ngoài chânmây.
Trong cửa nầy đãđành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
Những mong cánước vuivầy,
Nàongờ đôingã nướcmây cáchvời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinhphụ,
Chàng há từng học lũ vươngtôn,
Cớsao cáchtrở nướcnon,
Khiến người thôi sớm thì hôm những rầu.
Tưởng phonglưu đang chừng niênthiếu,
Sánh nhau cùng dandíu chữ duyên,
Nỡnào đôilứa thiếuniên,
Quansan để cách hànhuyên saođành.
Thuở lâmhành oanh chưa bénliễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca,
Nay quyên đã giục oanh già,
Ýnhi lại gáy trước nhà líulo.
Thuở đăngđồ mai chưa quen gió,
Hỏi ngàyvề chỉ độ đào bông,
Nay đào đã quyến gió đông,
Phùdung lại nở bên sông bơsờ.
Hẹn cùng ta Lũngtây núi ấy,
Sớm thường trông nào thấy hơităm,
Ngậpngừng lá rụng cành trâm,
Hoangthôn nghe tiếng ngọcầm laoxao.
Hẹn cùng ta Hándương cầu nọ,
Sớm lại tìm nàocó tiêuhao.
Ngậpngừng gió thổi lá bào,
Bãi hôm tuônchảy nướctrào mênhmông.
Tin thường lại người không thấy lại,
Đạp hoa tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chungquanh,
Lộ đi một bước trăm tình ngẩnngơ.
Thư thường lại người chưa thấy lại,
Bứcrèm thưa lần dãi bóngdương,
Bóngdương mấy buổi xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai.
Thử tính lại diễnkhơi ngày ấy,
Tiền sen nay đã nẩy là ba,
Xót người lầnlửa ải xa,
Xót người nương chốn hoànghoa dặmdài.
Tình giathất nào ai chẳng có,
Kìa từthân khuêphụ nhớthương.
Tóc già phơphất máisương,
Conthơ măngsữa vả đương bùtrì.
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hàinhi chờ bữa mớmcơm,
Ngọtbùi thiếp đã hiếunam,
Khuyên con đènsách, thiếp làm phụthân.
Một mình thiếp cungthân khoatử,
Nỗi quanhoài ngangngửa biếtbao,
Nhớ chàng trải mấy sươngsao,
Xuân từng đổi mới, đông nào còn xa.
Kể năm đã tưba năm chẳn,
Mốilòng trămnghìn quấn ngỗnngang,
Ước gì gầngũi tấcgang,
Dỡ niềm cayđắng để chàng tỏhay.
Thoa Cunghán của ngày xuấtgiá,
Gương lầu Tần dấu đã soi chung,
Cậy ai mà gởi tới cùng,
Ngỏ chàng thấu hết tấmlòng tươngtư.
Nhẫn đeo tay mọikhi mắt ghé,
Ngọc cài đầu thuởbé vuichơi,
Cậy ai mà gởi tới nơi,
Để chàng trântrọng dấu người tươngthân.
Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân nầy tin hãy vắng không,
Thấy nhàn luốngtưởng thưphong,
Nghe sương luốngsắm áobông sẵnsàng.
Giótây nổi không đường hồngtiện,
Xót cõingoài tuyết quyến mưa sa,
Mànmưa trướngtuyết xôngpha,
Nghĩ thêm lạnhlẽo kẻ ra cõingoài.
Đề chữ gấm phong thôi lại mở,
Gieo quẻtiền tin nửa còn ngờ,
Trời hôm đứng lặng ngẫnngơ,
Trăng khuya nươnggối bơthờ giómay.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơthơ thẩnthẩn hưkhông,
Trâm cài lược giắt thẹnthuồng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưngeo.
Dạo hiên vắng đêm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòiphen,
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết ví bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bithiết màthôi,
Buồnrầu nói chẳng nên lời,
Hoađèn kia với bóng người kháthương.
Gà eoóc gáy sương năm trống,
Liễu phấtphơ rủbóng bốnbên,
Khắcgiờ đằngđẵng như niên,
Mốisầu dằngdặc như miền bểxa.
Hương gượng đốt hồn đà mỏimệt,
Gương gượng soi, lệ kết chứachan,
Sắtcầm gượng gảy ngónđàn,
Dâyuyên kinhđứt, phiếmloan chạnhchùng.
Lòng này gởi gióđông có tiện,
Nghìnvàng xin gởi đến non Yên,
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thămthẳm đường lên bằng trời.
Trời thămthẳm xavời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đauđáu nào xong,
Cảnh buồn người thiếttha lòng,
Hình cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa đẽo mòn gốc liễu,
Mưa dường cưa xẻ héo cành ngô,
Chồm tuyết phủ bụi chim khua,
Sâu tường kêu vẳng, chuôngchùa triểnkhơi.
Vài tiếng dế, nguyệt rơi trước ốc,
Một hàng tiêu gió giục ngoài hiên,
Lá màn lay, ngọngió xuyên,
Buồng hoa theo bóngnguyệt lên trước rèm.
Hoa dãi nguyệt, nguyệt dìm một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùngtrùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu.
Đâuxiết kể muôn sầu nghìn não,
Từ nữcông phụxảo đều nguôi,
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa.
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói.
Sớm lại chiều dòidõi nương song,
Nương song luống ngẫnngơ lòng,
Vắng chàng điểmphấn tranghồng với ai.
Biếng trangđiểm lòng người sầutủi,
Xót nỗi chàng ngoài cõi giangbăng,
Khác gì ả Chức, chị Hằng,
Bến Ngân sùisụt cungtrăng chốcmòng.
Sầu ôm nặng ai chồng làm gối,
Muộn ăn no ai thổi làm cơm,
Rượu cùng hoa rắp tảđàm,
Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.
Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng,
Ôm đàntranh mấy phiếm rời tay,
Xót người hànhdịch bấynay,
Dặm dài thêm mỏi hết đầy lại vơi.
Ca quyên kêu làm rơi nướcmắt,
Trống tiều gõ như đốt buồng gan,
Võvàng đổikhác dungnhan,
Khuêly mới biết tântoan dường nầy.
Nếm chuacay tấmlòng mới tỏ,
Chuacay nầy há có vì ai,
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng thân thiếp lẻloi một bề.
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn,
Vui còn hồn mộng được gần,
Đêmđêm thường đến giangtân tìm người.
Tìm chàng thuở Dươngđài lối cũ,
Gặp chàng nơi Tươngphố bến xưa,
Sumvầy mấy lúc tìnhcờ,
Chẳngqua trên gối một giờ mộngxuân.
Giận thiếp thân lại chẳng bằng mộng,
Được gần chàng bến Lũng thànhquan,
Khi mơ những tiếc khi tàn,
Tình trong giấcmộng muônvàn cũng không.
Vui có một tấmlòng chẳng đứt,
Vốn theo chàng giờkhắc nào nguôi,
Lòng theo song chửa thấy người,
Lên cao mấy lúc trông vời bánhxe.
Trông bến Nam bãi che mặt nước,
Cỏbiếc um, dâu mướt màu xanh,
Nhà thôn gió bụi chungquanh,
Một đoàn âu lộ trước ghềnh chơi hôm.
Trông đường bắc đôi chòm quánkhách,
Rườmrà cây, xanh ngắt núinon,
Lúa thành thoithóp bên cồn,
Mưa thôi ngọn địch véovon bên lầu.
Non đông thấy lá hầu chất đống,
Trĩ tập bay mai cũng bẻbai,
Khói mù nghingút ngànkhơi,
Con chim bạtgió lạcloài kêu sương.
Sông Tây thấy nước dường uốnkhúc,
Nhạn bay không, sóng giục thuyền câu,
Ngàn thung chenchúc chòm dâu,
Cách ghềnh thấpthoáng người đâu đi về.
Trông bốnbề chântrời mặtđất,
Lênxuống lầu thấmthoắt đòiphen,
Lớp mây ngại mặt trôngnhìn,
Biết đâu bờcõi là miền Ngọcquan.
Gậy rút đất, ỷkhôn họcchước,
Khăn gieocầu nào được thấy tiên,
Lòng nầy hoá đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.
Lúc ngãnhlại ngắm màu dươngliễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tướcphong,
Chẳng hay muôndặm ruổidong,
Lòng chàng biết có như lòng thiếp chăng?
Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
Lòng thiếp đâu dám nghĩ gầnxa,
Hướngdương lòng thiếp dường hoa,
Lòng chàng lẩnthẩn e tà bóngdương.
Bóngdương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng bởi tại bóngdương,
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần.
Chồi lan nở trước sân đã hái,
Ngọn tần kề bên bãi đưa hương,
Sửa xiêm dạobước tiềnđường,
Ngửa trôngxem vẻ thiênchương thẩnthờ.
Bóng ngânhà khi mờ khi tỏ,
Độ khuêtriền buổi có buổi không,
Thứcmây đòilúc nhạtnồng,
Chuôi sao Bắcđẩu thôi đông lại đoài.
Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừngmắt trông sương gội cành khô,
Lạnhlùng thay bấynhiêu thu,
Giómay hiuhắt trên đầu tường vôi.
Một năm một nhạt mùi sonphấn,
Trượngphu còn thơthẩn miềnkhơi.
Xưa sao hìnhảnh chẳng rời,
Bâygiờ nỡ để cáchvời Sâm Thương.
Chàng giong ngựa dặmtrường mây phủ,
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in,
Gióxuân ngày một vắng tin,
Khá thương lỡ hết mấy phen lươngthì.
Xẩy nhớ khi cành diêu đoá nguỵ,
Trước gióxuân vàng tía sánh nhau.
Nọ người ả Chức, chàng Ngâu,
Tới trăng thu lại bắc cầu qua sông.
Thiết một kẻ buồng không luống giữ,
Thờitiết lạnh, lầmlỡ xiếtbao.
Thoi đưa ngàytháng ruổi mau,
Người đời thấmthoắt qua màu xuânxanh.
Xuân thu để giận quanh trong dạ,
Biệt ly nầy buồn quá khi vui,
Oánsầu nhiều nỗi tơibời,
Vóc bồliễu dễ épnài chiều xuân.
Kìa Vănquân mỹmiều thuởtrước,
E tới khi đầu bạc mà thương,
Mặt hoa nọ gã Phanlang,
Sợ khi máitóc basương cũng ngừng.
Nghĩ nhansắc đươngchừng hoa nở,
Tiếc quangâm lầnlữa gieo qua,
Nghĩ mệnhbạc, tiếc niênhoa,
Gáitơ mấy chốc xảy ra nạdòng.
Gác hương nọ mơmòng vẻ mặt,
Lầu hoa kia phảngphất hơi sương,
Trách trời sao để dởdang,
Thiếp vì thiếp, lại vì chàng chẳng quên.
Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội,
Cũng dậpdìu chẳng vội phântrương,
Chẳng xem chim yến trên rường,
Bạcđầu không nỡ đôi đường chia nhau.
Kìa loài sâu đôi đầu cũng sánh,
Nọ loài chim chắpcánh cùng bay.
Tử sen là giống cỏcây,
Đôi hoa cùng nở, đôi cây cũng liền.
Ầy loàivật tìnhduyên còn thế,
Sao kiếpngười nỡ để đấy đây.
Thiếp xin muôn kiếp duyên này,
Như chim liền cánh, như cây liền cành.
Đành muôn kiếp chữ tình thì vậy,
Theo kiếp nầy hơn thấy kiếp sau,
Thiếp xin chàng chớ bạcđầu,
Thiếp thì giữmãi lấy màu trẻtrung.
Xin làm bóng theo cùng chàng vậy,
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên,
Chàng nương vầngnhật phỉnguyền,
Mọi bề trunghiếu thiếp xin vẹntròn.
Lòng hứaquốc thắmson ngănngắt,
Sức týdân, kìnhsắc trơtrơ,
Máu Thiềnvu, quắc Nhụcchi,
Ầy thì buổi uống, ấy thì buổi ăn.
Mũi dòng vác đòi lần hămhở,
Đã lòng trời gìngiữ người trung,
Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải Bắc, treo cung non Đoài.
Bóng xíkỳ giã ngoài quanải,
Tiếng khảica trở lại thầnkinh.
Non Yên tạcđá đềdanh,
Triềuthiên vào trước cungđình dângcông.
Nước Doanhhán vác đòng rữa sạch,
Khúc nhạctừ giéogiắc lừng khen,
Tài so Tần, Hoắc vẹntuyền,
Tên ghi gác khói, tượng truyền đài Lân.
Nền huântướng đaicân rạngvẻ,
Chữ đồnghưu bia để nghìnđông,
Ấn trên tửấm thêphong,
Hiểnvinh thiếp cũng đượm chung hươngtrời.
Thiếp chẳng dại như người Tôphụ,
Chàng hẳn không như lũ Lạcdương,
Khi về đeo quả ấnvàng,
Trên khungcửi dám dẫyduồng làmcao.
Xin vì chàng treo bào cởi giáp,
Xin vì chàng rũ lớp phongsương,
Vì chàng tay chuốc chén vàng,
Vì chàng điểmphấn đeo hương nãonùng.
Dở khăn lệ chàng trông từng tấm,
Đọc thơ sầu chàng gẫm từng câu.
Câu vui đổi với câu sầu,
Rượu rồi cùng kể trướcsau mọi lời.
Sẽ rót vơi lầnlần đòi chén,
Sẽ ca dần renrén từng liên,
Liênngâm đốiẩm từng phen,
Cùng chàng kết lại mốiduyên đến già.
Cho bỏ lúc sầu xa cách nhớ,
Giữgìn nhau vui thuở thanhninh,
Ngâmnga mong gởi chữ tình,
Dường nầy âuhẳn tàilành trượngphu.

Bản TiếngNôm: Đoàn Thị Điểm      

Ngườidịch: dchph 

 


Diễnđàn TiếngViệt
Ýkiến? Phêbình? Vàođây Ziendan.com 



WWW  VNY2K

   
   HỌCTHUẬT
   SÁNGTÁC
   BÚTKÝ VIỄNDU
   TÂMTÌNH SONGNGỮ

 

This website advocates the use of Vietnamese2020  for a better way to  process Vietnamese information.
Sứmạng chính của trangnhà VNY2K.COM là cổvõ cáchviết mới Việtngữ2020 vì đó là conđường hiệnđạihoá tiếngViệt. 
www.vny2k.com | vny2k.net | Ziendan.net | hocthuat.org | sangtac.net | Han-Viet.org


For comments or questions, please post them on ziendan.com
Copyright © 1999-2009  www.vny2k.com.